Skip to main content

Nam kien nghi lam cho Toa an doc lap

LÀM CHO TÒA ÁN ĐỘC LẬP

Phạm Duy Nghĩa
(Tia Sang, 05/2008)

Không có quá nhiều lý do để tự hào về vai trò của các tòa án trong công cuộc đổi mới hai thập kỷ qua ở nước ta. Ở địa phương, chánh án các tòa án thường có một vị trí xã hội khá khiêm tốn so với giám đốc các sở, ban ngành cùng cấp. Ở trung ương, tòa án chưa thực sự có điều kiện để trở thành một cơ quan quyền lực, góp phần xác lập chính sách một cách đáng kể ở nước ta.
Nếu tòa án tiếp tục thiếu tin cậy thì người dân sẽ tìm đến các phương pháp giải quyết tranh chấp ngoài tòa, công lý không được xác lập thì nguy cơ bất ổn tăng nhanh-hàng nghìn vụ đình công bất hợp pháp từ Nam ra Bắc, đòi nợ thuê, xiết nợ kiểu xã hội đen là một minh chứng cho nhận định này. Thêm nữa, khi người nước ngoài làm ăn tại Việt Nam, tranh chấp sẽ được đưa ra ngoài lãnh thổ nước ta để giải quyết, các trọng tài Singapore hay Hồng-Kông sẽ thay thế tòa án Việt Nam trong việc xác lập trật tự kinh doanh ngay ở chính nước ta. Ngoài ra, tư pháp non yếu thì hành pháp lạm quyền, quan chức có nhiều cơ hội lạm dụng quyền lực công mà không bị truy hỏi về trách nhiệm chính trị cũng như pháp lý trước người dân.
Lựa chọn thành công theo gương những người hàng xóm Đông Á, chúng ta cần một nhà nước thượng tôn pháp luật. Một nhà nước ấy cần cương tỏa quyền lực của hành chính, đặt mọi đảng phái, công an, quân đội, Chính phủ, ngân hàng quốc doanh và tất cả mọi thiết chế quyền lực khác dưới sự giám sát của pháp luật, của tòa án. Khái niệm ấy người ta gọi là giám sát tư pháp đối với cơ quan công quyền.
Từ chối cải cách theo chiều sâu, lãng mạn phát triển theo “đặc thù riêng của đất nước chúng ta”- cái đặc thù ấy là những nhóm lợi ích ngày càng lớn mạnh đã chia sẻ ngày càng công khai các nguồn tài nguyên quốc gia-từ ruộng đất của nông dân tới các nguồn khoáng sản, bờ biển, rừng núi và sóng truyền thông. Người có tiền thường có năng lực chi phối chính sách kinh tế rất mạnh, chúng ta mau chóng sẽ có những chính thể sốt sắng vì quyền lợi của người giàu và có thế lực. Có vẻ như những người đang nắm chính quyền ở nước ta cũng không tôn thờ một chủ nghĩa tư bản mang tính cướp bóc ấy.
Vậy thì, dù gọi là tôn dân-nhà nước của dân, hay tôn chủ nghĩa xã hội, tăng quyền cho các tòa án giám sát chính quyền sẽ là một hướng đi trúng. Muốn cho tòa án mạnh, mạnh trong tương quan với các cơ quan của Đảng, của chính quyền, của các tập đoàn kinh tế đầy sức mạnh, thì phải làm cho các cơ quan tư pháp độc lập, không khuất phục trước các thế mạnh cản trở công lý.

Năm chủ trương cụ thể

Muốn cho tòa án mạnh, thì các thẩm phán phải độc lập. Vậy nên, cải cách tư pháp, nếu muốn thực sự thành công và giúp dân chúng kiểm soát Chính phủ, phải hướng tới các chủ trương cụ thể như sau:
Thứ nhất, các thẩm phán phải được bổ nhiệm suốt đời, hoặc chí ít theo những nhiệm kỳ dài, ví dụ 12 năm, vênh với nhiệm kỳ của cơ quan hành pháp. Sau khi được bổ nhiệm, thẩm phán không bị thay đổi nơi trị nhiệm. Làm như vậy, các thẩm phán sẽ bớt sợ hãi hơn trước các cuộc tái bầu cử hay bổ nhiệm (cứ 5 năm một lần như hiện nay).
Thứ hai, quỹ lương, ngân sách hoạt động của các tòa phải không lệ thuộc vào ngân sách địa phương. Ngạch tư pháp phải hạch toán, phân bổ ngân sách riêng từ trung ương, lãnh đạo các địa phương tuyệt nhiên không nên có ảnh hưởng gì tới chi tiêu của các tòa án. Thêm nữa, lương của thẩm phán cũng phải đủ nuôi họ và gia đình một cách tương đối đàng hoàng (theo thời giá hiện nay lương cho thẩm phán tòa phúc thẩm khoảng 10 triệu đồng/tháng là mức khiêm tốn cần trông đợi).
Thứ ba, đã đến lúc phải từng bước thay mô hình “các con búp-bê ma-trutsch-ka” hiện nay, theo đó mỗi địa phương là một nhà nước nho nhỏ với đủ các cơ quan cảnh sát, quân đội, tòa án. Thành lập các tòa sơ thẩm theo khu vực, không tuân theo địa giới hành chính; thành lập các tòa phúc thẩm khu vực; những điều này kết hợp với sự tự do về ngân sách, sẽ làm cho tòa án ngày càng độc lập với chính quyền các tỉnh. Đây là một đường lối đã được thông qua tại Nghị quyết số 49 về cải cách tư pháp của Bộ Chính trị, song sức cản chủ yếu nằm ở quan chức địa phương. Những quan tòa soi mói và không dễ khuất phục chưa chắc đã là điều mà lãnh đạo các tỉnh mong muốn hiện nay.
Thứ tư, thẩm phán không nên chỉ là công nhân xử án, chỉ quen các thao tác tuân theo những hướng dẫn đã có sẵn. Bảo đảm cho họ mọi sự độc lập và tự do khi tuyên xử, phải có những sự chuẩn bị cho cả xã hội về một vị thế mới của người thẩm phán. Họ nên là những nhân cách được dân chúng tin tưởng và kính mến trước hết về mặt đạo đức, về cảm nhận công lý, về bảo vệ niềm tin. Muốn vậy, nên nghiên cứu rất kỹ cách người Nhật, người Hàn đang cải cách nền tư pháp hiện nay. Theo thiển ý của tôi, không nên thu nạp thẩm phán từ các nhân viên thư ký tòa như hiện nay, mà nên bổ nhiệm họ trong số những luật sư đã hành nghề có uy tín nhiều năm.
Thứ năm, nền tư pháp chỉ có thể được cải cách, nếu bắt đầu từ nền đào tạo luật học. Cũng như y khoa chữa bệnh cho người, người học luật nên có kinh nghiệm sống, chí ít là nên đã có một bằng cử nhân. Không có kinh nghiệm sống đa dạng thì làm sao phán xử được về sự đời, các luật sư phải là người đã có một bằng đại học, học thêm 3-4 năm nữa để hành nghề luật, vì thế luật học không nên đào tạo ở bậc đại học, mà chỉ nên đào tạo ở bậc sau đại học- hiểu theo nghĩa đã có một bằng đại học trước đó. Thêm nữa, dạy luật không chỉ là lý thuyết, mà nên dạy nghề. Người học phải trải qua các tín chỉ được thực hiện ở các văn phòng luật sư, các cơ quan nhà nước hay tòa án. Đây là một vấn đề rất mấu chốt, vì tòa án sẽ tốt lên đáng kế nếu các luật sư được tranh tụng công khai ngày càng giỏi và dám thách thức quan tòa.
Mục đích, các tiêu chí cải cách hệ thống tòa án theo Nghị quyết 49 đã khá rõ ràng, theo thiển ý của riêng tôi, vấn đề hiện nay chủ yếu là ý chí chính trị của những người giữ quyền điều hành đất nước. Nếu họ muốn, việc từng bước giảm bớt hội đồng nhân dân cấp huyện, tách các tòa án huyện ra khỏi cơ cấu hành chính để thành lập các tòa sơ cấp theo khu vực là điều có thể làm được trong vòng vài năm tới. Nếu làm được như vậy, chúng ta đang khám phá ra quá khứ, bởi một hệ thống tòa án từ sơ cấp- tòa phúc thẩm khu vực, tòa phá án tách rời với địa giới các tỉnh đã từng tồn tại ở Miền Bắc Việt Nam cho tới những năm 1953… chúng chỉ bị thay thế bởi các tòa án nhân dân sau chiến thắng biên giới Việt Trung. Đọc Hiến pháp năm 1946 người ta vẫn còn thấy nguyên hình hài của chúng.

Comments

Popular posts from this blog

Arbitrability

§ 2 LCA 2010 focuses on commercial arbitration, to settle commercial disputes, with at least one of the parties who is merchant and conducts commercial act. Additionally, the scope of arbitrable commercial disputes is determined by special law, such as Commercial Law 2005, Law on Investment 2014, and Law on PPP 2020. Example from practice: A and B are wife and husband in a pending divorce process. In dividing their joint property, they agree to divide the shares jointly owned in a company: 40% for A, and 60% for B. Disputes arise because A will remain as active shareholder with all voting rights, but B only agrees to compensate the market value of this 40% of these shares, estimated 1200 billion VND. A and B agree to settle this dispute by arbitration. Is this dispute arbitrable? Divorce is a civil procedure under jurisdiction of VN court ( § 28 Civil Procedure Code 2019). In the marriage, wife and husband are not merchants, the divorce is not a commercial act ( § 2 LCA). Theref

Đoán định tư pháp là gì?

Bài viết ngắn dưới đây góp phần tìm hiểu và trả lời các câu hỏi sau đây: (i) Đoán định tư pháp là gì, ra đời trong bối cảnh nào, có ảnh hưởng gì trong ngành tư pháp trên thế giới, (ii) Ngành tư pháp Việt Nam nên chuẩn bị như thế nào để chủ động ứng xử với xu thế Đoán định tư pháp [1] . Đoán định tư pháp (Predictive Justice) là gì? 1.       Đoán định tư pháp là một xu thế thay đổi cung cách cung cấp dịch vụ pháp lý, trong đó có hoạt động xét xử của tòa án, dưới sức ép của thời đại dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI), với sự xuất hiện của các công ty khởi nghiệp công nghệ pháp lý (Legal Tech start-up), cung cấp những giải pháp tư vấn, hỗ trợ pháp lý trên nền tảng của các công nghệ thông minh. 2.       Xu thế này bắt nguồn từ những nỗ lực cung cấp nguồn luật mở (open data) từ 50 năm nay. Do công nghệ thay đổi rất nhanh (máy tính, vật liệu bán dẫn, chip điện tử, mạng Internet, các thuật toán dẫn tới trí tuệ nhân tạo), 50 năm qua máy tính đã thông minh hơn 1,
  Pham Duy Nghia graduated at Leipzig University in Germany (LLB 1988, PhD 1991). He was a Fulbright visiting scholar at Harvard Law School (2001-2002). At Fulbright University Vietnam he teaches Law and Public Policy, Public Governance, Research Methods of Public Policy. As arbitrator Prof Pham Duy Nghia has served in more than 100 cases hearing transnational business disputes, including commercial, investment, construction, insurance, corporate disputes, M & A and intellectual property disputes. Besides teaching, research, and practicing law, Pham Duy Nghia is a frequent commentator in leading newspapers and media in Vietnam. The areas concerned include protection of basic citizen’s right, voice and accountability in public governance, regulatory quality, rule of law and access to justice.