Skip to main content

Giao luu tri thuc Viet

TRI THỨC: CHÚT NGỄNH NGÃNG ĐÓN XUÂN

Phạm Duy Nghĩa

Cuối năm nay tôi bị một trận ốm ra trò, người lúc nóng lúc lạnh tựa giá cả lên xuống ngoài ngõ. Bài dưới đây ghi lại những suy nghĩ lan man về giao lưu tri thức người Việt sống rải rác khắp năm châu, mà tôi nghĩ, cùng với những dòng vốn đầu tư, hàng hóa và giao lưu văn hóa khác.. sẽ róc rách hòa chảy tới đất nước này.


Cứ 8 người sống trong nước thì 3 người ở nước ngoài, tri thức của người Việt Nam bởi thế được lưu giữ một phần ở trong nước, và một phần đáng kể tản mạn khắp hải ngoại. Tôi đã rất ngạc nhiên khi nhìn những giá đầy ắp sách cổ và tư liệu quý về Việt Nam ở tầng hầm thư viện Harvard Jenching, ở thư viện Max Planck Hamburg-(Thư viện Hoàng gia Phổ trước kia), ấy là chưa kể đầy ắp những lưu trữ về Việt Nam ở Pháp, Trung Quốc, Hà Lan và vô số những nơi không ngờ khác. Vấn đề lớn hiện nay là khơi thông những dòng trí thức Việt ấy, để cho một niềm đau xa xứ của cũng mau nhận được sự đồng cảm quê nhà. Với tri thức Tây, Tàu sự hội nhập nhập dường như còn dễ dàng hơn cả sự giao lưu giữa những luồng tri thức khác nhau của chính người Việt.
Để thúc đẩy hòa giải dân tộc về tri thức, chắc rằng các gia đình, công ty sẽ liên kết trao đổi sách, tin tức, lập nên các thư viện liên gia đình. Cả một xã hội dân sự khổng lồ chia sẻ trí tuệ sẽ nhanh và mạnh hơn chờ đợi ở Nhà nước.

Gom lượm tri thức đã là khó, từ giới có học tạo thành một lớp trí thức có năng lực khám phá, có đầu óc phản biện, có dũng khí đứng vững như cây thông trong gió rét “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” lại càng khó hơn. Nho giáo suy tàn, nền Tây học chưa yên ổn định vị, lại một cuộc phổ biến tràn lan nền tư duy Xô-viết, chiến tranh và đói nghèo.. những điều ấy càng làm khó cho một lớp trí thức có bản lĩnh được hình thành. Thời chiến quyền được nói thuộc về người có súng, thời kinh doanh quyền ấy có vẻ như bị thao túng bởi thương nhân. Đang từng bước hình thành, giới trí thức Việt Nam chắc còn rất lâu mới có thể có những ảnh hưởng đáng kể hơn trong phân tích, phản biện hay xây dựng chính sách ở nước ta.

Trong các nghề liên quan đến tri thức, nghề sử học xưa có vẻ để lại nhiều tiếng thơm, việc ấy chắc là có nhiễu lẽ. Có vẻ như thời nay hình ảnh nhà sử học không còn được cao trong tâm trí người dân như một thủa. Biết mà không dám nói, nói mà không dám nói hết, thậm chí chẳng dám nghĩ chệch đám đông, nếu giới hạn nhãn quan, những điều nhà sử học nói ra chưa phản ánh đầy đủ sự thật. Những phong trào ồn ã trên báo chí vài năm qua như “Hoa lửa Quảng Trị”, “Bay lên Việt Nam”, “Sự kì diệu của Thánh Gióng”… là minh chứng cho những cách nhìn lịch sử một chiều ấy. Lịch sử nghĩa là cuốn biên niên chép lại sự phát tích hưng thịnh, kể cả lúc lao đao của dân tộc trước hết phải trung thực. Từ những sự kiện trung thực đó, những người hay chữ thỏa chí bình luận, song không nên xem phần bình luận cá nhân đó là sử. Vì khí hậu ẩm uớt, hơn nữa thói quen của Việt tộc cũng không đề cao sự chính xác chi ly kiểu như người Đức lo gom nhặt từng mẩu kỷ vật gia đình, sách vở chép bằng tay theo năm tháng cũng mục nát, các di tích bị bỏ hoang phế tan dần với thời gian. Trong trí nhớ của dân tộc, lịch sử có khi như tiềm thức, có khi như huyền sử âm vang trong tâm hồn những người con gốc Việt. Lịch sử của người Việt vì vậy đôi khi lãng đãng với những điều tỉnh rõ và mơ hồ. Chỉ có điều, nếu không thông tỏ lịch sử thì khó hiểu được dân tộc hành động như thế nào; nguy cơ vấp lại những vết xe đổ cũ là rất lớn.

Trong nhiều vệt trống chưa rõ về lịch sử, có nhiều điều người ta khó có thể dám bàn tới, bởi quá khứ đôi khi cũng rất cay đắng và đầy những bất ngờ. Nó tựa những vết thương mà việc nhắc lại chưa chắc đã làm cho người ta khỏe thêm. Chắc rằng tự vấn là cần thiết, song soi kỹ lại quá khứ để hướng tới những điều tốt đẹp, làm khởi phát những sức mạnh vươn lên của Việt tộc, chứ không nên quá thiên về bới móc, kích bác chia rẽ, càng không nên làm phán quan… vì cuộc đời này kỳ lạ lắm, hiểu biết của chúng ta có đáng là bao.

Cuối cùng, xin lạm bàn về cách dạy sử. Tri thức thấm vào tâm hồn đứa trẻ qua cảm xúc của nó. Ta bắn rơi 10 máy bay, tiêu diệt 100 tên địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1000 tên.. những thông tin vô hồn kiểu ấy làm khô héo cảm xúc trẻ nhỏ. Quê tôi ở Nam Định, nơi ấy đầy ắp huyền sử về trấn Sơn Nam Hạ xưa với những Khổng Minh Không, Đền Trần, khởi nghĩa Ba Vành, nơi ấy có tổng trấn thành Nam phải rút kiếm chém nát cả góc bàn mới mong giữ được trật tự của đám quan run lên như cầy sấy khi đại bác của thực dân nã vào thành… Tôi sẽ yêu quê ấy hơn nếu có cơ hội tự tìm hiểu những nhân vật, những sự kiện mà mình yêu thích. Trẻ nhỏ sẽ hào hứng và tự khám phá những dấu tích lịch sử nơi chúng sống, và biết đâu một ngày kia chúng sẽ khám phá ra nhiều điều bất ngờ hơn nữa trong lịch sử gia đình riêng của chúng và của quê hương, tổ quốc. Hãy bảo vệ sự tự do khám phá của con em chúng ta, để cho cảm nhận được lịch sử hơn là chỉ thuộc lòng các dữ kiện trong các cuốn giáo khoa đầy ắp những con số và nhận định cá nhân./.

Popular posts from this blog

Arbitrability

§ 2 LCA 2010 focuses on commercial arbitration, to settle commercial disputes, with at least one of the parties who is merchant and conducts commercial act. Additionally, the scope of arbitrable commercial disputes is determined by special law, such as Commercial Law 2005, Law on Investment 2014, and Law on PPP 2020. Example from practice: A and B are wife and husband in a pending divorce process. In dividing their joint property, they agree to divide the shares jointly owned in a company: 40% for A, and 60% for B. Disputes arise because A will remain as active shareholder with all voting rights, but B only agrees to compensate the market value of this 40% of these shares, estimated 1200 billion VND. A and B agree to settle this dispute by arbitration. Is this dispute arbitrable? Divorce is a civil procedure under jurisdiction of VN court ( § 28 Civil Procedure Code 2019). In the marriage, wife and husband are not merchants, the divorce is not a commercial act ( § 2 LCA). Theref

Đoán định tư pháp là gì?

Bài viết ngắn dưới đây góp phần tìm hiểu và trả lời các câu hỏi sau đây: (i) Đoán định tư pháp là gì, ra đời trong bối cảnh nào, có ảnh hưởng gì trong ngành tư pháp trên thế giới, (ii) Ngành tư pháp Việt Nam nên chuẩn bị như thế nào để chủ động ứng xử với xu thế Đoán định tư pháp [1] . Đoán định tư pháp (Predictive Justice) là gì? 1.       Đoán định tư pháp là một xu thế thay đổi cung cách cung cấp dịch vụ pháp lý, trong đó có hoạt động xét xử của tòa án, dưới sức ép của thời đại dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI), với sự xuất hiện của các công ty khởi nghiệp công nghệ pháp lý (Legal Tech start-up), cung cấp những giải pháp tư vấn, hỗ trợ pháp lý trên nền tảng của các công nghệ thông minh. 2.       Xu thế này bắt nguồn từ những nỗ lực cung cấp nguồn luật mở (open data) từ 50 năm nay. Do công nghệ thay đổi rất nhanh (máy tính, vật liệu bán dẫn, chip điện tử, mạng Internet, các thuật toán dẫn tới trí tuệ nhân tạo), 50 năm qua máy tính đã thông minh hơn 1,
  Pham Duy Nghia graduated at Leipzig University in Germany (LLB 1988, PhD 1991). He was a Fulbright visiting scholar at Harvard Law School (2001-2002). At Fulbright University Vietnam he teaches Law and Public Policy, Public Governance, Research Methods of Public Policy. As arbitrator Prof Pham Duy Nghia has served in more than 100 cases hearing transnational business disputes, including commercial, investment, construction, insurance, corporate disputes, M & A and intellectual property disputes. Besides teaching, research, and practicing law, Pham Duy Nghia is a frequent commentator in leading newspapers and media in Vietnam. The areas concerned include protection of basic citizen’s right, voice and accountability in public governance, regulatory quality, rule of law and access to justice.