Skip to main content

Lay Judges in Vietnam: Hội thẩm ở Việt Nam

Bài viết dưới đây gợi thảo luận về các vấn đề sau: (i) Vì sao người dân không có nghiệp vụ lại được tạo cơ hội tham gia các hội đồng xét xử tại tòa án cùng với các thẩm phán chuyên nghiệp? (ii) Việc tạo điều kiện cho người dân tham gia xét xử tại tòa án có thể đặt ra những rủi ro gì? (iii) Các gợi ý chính sách làm cho người dân tham gia có hiệu quả hơn vào hoạt động xét xử của tòa án.

 

I. Khái quát về hội thẩm/bồi thẩm đoàn

 

Hội thẩm là một chế định ngoại lai, từ nước ngoài, du nhập vào nước ta từ 70 năm nay. Mục đích của chế định hội thẩm là để tạo điều kiện cho người dân có thể tham gia vào quá trình xét xử, nhất là trong cá vụ án hình sự, tạo trao đổi thảo luận giữa các thẩm phán chuyên nghiệp và người nghiệp dư, qua đó nhằm đạt được và làm lan rộng công lý.

Tên gọi của chế định này có thể dịch là hội thẩm, bồi thẩm, thẩm phán không chuyên, bồi thẩm đoàn. Tùy theo truyền thống pháp luật theo án lệ kiểu Anh hay dân luật kiểu Châu Âu lục địa, mà cách lựa chọn, phân công công việc, trách nhiệm, thẩm quyền của hội thẩm ở các nước là khác nhau (juries, lay judges, assessor, Schöffen).

Đã có một số đánh giá quốc tế về hai mô hình bồi thẩm đoàn và hội thẩm trên phạm vi gần 70 quốc gia trên thế giới (Toby S. Goldbach, 2014), hội thẩm của các quốc gia Châu Âu (Stephan Machura, 2014) hoặc kinh nghiệm du nhập hội thẩm ở các quốc gia Đông Bắc Á (Landsman, Stephen Zhang, 2008). Sơ bộ có thể khái quát các điểm sau:

(i)                  Muốn du nhập thành công chế định hội thẩm, hoặc bồi thẩm đoàn, phải chuẩn bị các tiền đề, nhận thức xã hội (trong và ngoài tòa án) để ủng hộ, hậu thuẫn cho chế định này. Một nước có truyền thống dân luật thì sẽ khó du nhập mô hình bồi thẩm đoàn.  Người hội thẩm giúp khai phóng dân chủ, tăng sự tham gia của người dân trong hoạt động xét xử, tăng nhận thức cộng đồng về công lý và giám sát tòa án. Họ là thẩm phán không chuyên/nghiệp dư, đảm nhận công việc một cách kiêm nhiệm, vì danh dự, và vì trách nhiệm công dân. Tuy nhiên, đã chấp nhận, thì hội thẩm trở thành một nghĩa vụ, một bổn phận nặng nề, không phải vì là người nghiệp dư mà tùy tiện.

(ii)                Quy trình lựa chọn, đề xuất và phê duyệt danh sách hội thẩm, một mặt phải dựa trên sự tự nguyện/sẵn sàng của cá nhân các ứng viên, mặt khác phải đảm bảo quyền tham gia của tòa án, và tính đại diện cho các giai tầng trong xã hội.  

(iii)              Sau khi được lựa chọn, hội thẩm được phân công tham gia xét xử hình sự dưới sự điều hành về hành chính của tòa án. Là hội thẩm, song có vai trò như một thẩm phán, có quyền và nghĩa vụ như một thành viên bình đẳng trong hội đồng xét xử, người hội thẩm phải có các nghĩa vụ tương tự như một thẩm phán. Hội thẩm là một thẩm phán không chuyên trong Hội đồng xét xử, song không thể hành xử tùy ý. Như vậy không chuyên không có nghĩa là không có đào tạo: người hội thẩm thường được tập huấn, giới thiệu, làm quen với vai trò có tính chất danh dự của mình, được nhắc nhở về cơ chế ràng buộc trách nhiệm rõ ràng và hậu quả pháp lý nếu vi phạm trách nhiệm.

 

II.   Nhận diện các trục trặc có thể xảy ra trong hoạt động tham gia xét xử của hội thẩm

 

Ở Việt Nam, nhiệm kỳ của các hội thẩm theo nhiệm kỳ của HĐND địa phương. Họ được bầu theo nhiệm kỳ 5 năm của HĐND, có thể tái cử. Mặt trận và Tòa án cùng cấp sẽ thống nhất đề cử danh sách hội thẩm trình HĐND thông qua. Theo số liệu cập nhật toàn quốc của TANDTC, cả nước thống kê được 17.000 hội thẩm nhân dân. Ví dụ, trong nhiệm kỳ 2021-2025, tại TAND TP HN có 100 hội thẩm, trong đó: 41 là cán bộ hưu trí, 33 chọn từ các sở ban ngành của UBND, 26 người từ đoàn thể của Mặt trận. (Trong số 41 cán bộ hưu trí, 27 vị là cán bộ ngành tòa án, kiểm sát, công an đã về hưu).

Mỗi năm hệ thống tòa án nước ta thụ lý gần nửa triệu vụ án các loại. Sơ tính, với quy định 2/3 hoặc 3/5 số thành viên các hội đồng xét xử các vụ án đó là hội thẩm, thì có hàng triệu lượt những người dân, không phải là thẩm phán chuyên nghiệp, hàng năm sẽ tham gia hoạt động xét xử của tòa án. Điều này gợi ý:

-          Nếu làm tốt, sự tham gia của hội thẩm sẽ góp phần đáng kể làm lan rộng cảm nhận công lý, truyền thông nhận biết pháp luật đến hàng triệu hộ gia đình, các cộng đồng, từ đó cho thấy bảo vệ công lý là sự nghiệp chung của toàn dân. Người hội thẩm cần được tôn vinh cho đầu tư công sức đóng góp hầu như thiện nguyện, vì danh dự, cho công việc chung này.

-          Nếu làm tốt, hội thẩm giúp lan truyền niềm tin, nâng cao vị thế của tòa án trong nhân dân, minh bạch hoạt động của tòa án, tăng sự quan tâm của người dân đối với tòa án.

-          Nếu làm tốt, hội thẩm không chuyên giúp tăng đối thoại giữa người dân với các thẩm phán chuyên nghiệp, các bản án sẽ phản ánh tốt hơn nhận thức, cảm nhận xã hội về công lý, tăng tính chính danh cho tòa án và các thẩm phán chuyên nghiệp.

Hiển nhiên, theo chiều ngược lại, nếu làm không tốt, nếu không được quan tâm và có chính sách phù hợp, thì hậu quả của hoạt động hình thức, kém hiệu quả của người hội thẩm có thể gây tổn hại đáng kể cho cải cách tư pháp, cho thanh danh của ngành tòa án, và cho nhận thức của xã hội đối với tính nghiêm minh của luật pháp.

Dựa trên một số báo cáo hoạt động của Đoàn hội thẩm một số địa phương mà tôi sơ bộ có điều kiện tham khảo, trong việc hội thẩm tham gia xét xử tại tòa án, có thể xuất hiện những trục trặc như mô tả sơ bộ dưới đây:

-          Ai giám sát sự tham gia của các hội thẩm sau khi được HĐND bầu, hội thẩm chịu trách nhiệm như thế nào trước HĐND, trước Đoàn hội thẩm, Tòa án, và xã hội?

-          Tòa án không ràng buộc được người hội thẩm, vậy ai quản lý hội thẩm, nếu được mời mà hội thẩm từ chối tham gia, hoặc đã nhận tham gia vụ án mà vắng mặt hoặc không chuẩn bị chu đáo cho Phiên xử thì Tòa án có thể làm được gì, có thể quy định trách nhiệm của người hội thẩm như thế nào?

-          Sau khi nhận hồ sơ, có hội thẩm không nghiên cứu kỹ hồ sơ, không tích cực tham gia, không chuẩn bị, không phát biểu đúng trọng tâm, thậm chí phát biểu không đúng mực. Tòa án không có cách gì để ràng buộc trách nhiệm những hội thẩm này.

-          Nếu có án oan sai, thì trách nhiệm của hội thẩm như thế nào? Nhất là trong án sơ thẩm, 2/3 thành viên của hội đồng xét xử là hội thẩm, nếu hai hội thẩm quyết định theo đa số, án bị sai, thì ai chịu trách nhiệm?

-          Án hành chính thường rất khó mời hội thẩm, người được mời sẽ tìm mọi lý do để từ chối tham gia, nhằm tránh tình thế khó xử có thể xảy ra với cơ quan hành chính địa phương,

-          Với án liên quan đến vị thành niên, theo quy định cần hội thẩm có hiểu biết về giáo dục, công tác thanh niên hoặc với án lao động cần có hội thẩm đại diện từ khu vực có sử dụng lao động, nếu họ vắng hoặc từ chối thì tòa án có khó khăn trong tìm người thay thế,

-          Việc phân công hội thẩm tham gia xét xử, bồi dưỡng nghiệp vụ cho hội thẩm nên được tiến hành như thế nào?

-          Vướng mắc trong hoạt động của Đoàn hội thẩm nhân dân, nhất là kinh phí hoạt động của Đoàn hội thẩm nhân dân đôi khi khiêm tốn hoặc chưa được cấp đúng hạn, phụ cấp đọc hồ sơ và tham gia phiên xử chưa tương xứng (thù lao 90.000 đồng cho một ngày dự xét xử).

 

III. Đi tìm nguyên nhân và gợi ý chính sách

 

Dựa trên khung lý thuyết ROCCIPI, có thể dự báo nguyên nhân dẫn tới những trục trặc nêu trên bắt nguồn từ những yếu tố sau:

-          Về lý thuyết, có nên quy định hội thẩm tham gia các phiên xét xử kinh tế, dân sự, hôn nhân gia đình, hay hành chính hay không? Đây là các vụ kiện có tính riêng tư, quyền dân sự của các bên chưa chắc đã liên quan đến công cộng? Nhiều nước chỉ quy định sự tham gia của hội thẩm/bồi thẩm đoàn đối với án hình sự mà thôi, thậm chí cũng chỉ giới hạn ở trọng án.

-          Về khung khổ pháp luật: Xét xử có sự tham gia của hội thẩm là một nguyên tắc hiến định, Điều 103 khoản 1, Hiến pháp 2013. Nguyên tắc này được thể hiện chi tiết trong các Điều 8, 84-91 Luật Tổ chức tòa án nhân dân 2014; trong Quy chế tổ chức và hoạt động của đoàn hội thẩm 2016 (Nghị quyết số 1213/2016/UBTVQH13 ngày 13/06/2016). Tuy nhiên, cần đánh giá, rà soát các văn bản hướng dẫn thi hành, ví dụ để hạn chế chỉ chấp nhận hội thẩm cho các vụ trọng án, bớt dần sự tham gia của hội thẩm tại án dân sự, hoặc mở rộng, đa dạng hóa đối tượng được chọn làm hội thẩm, để trao quyền cụ thể hơn cho tòa án và mặt trận có thể xác định danh sách hội thẩm mà không cần thông qua HĐND, quy định các chế tài đối với hội thẩm cố ý vi phạm bổn phận của mình.

-          Lựa chọn, đề xuất, phê chuẩn danh sách hội thẩm: Xét trên số lượng nửa triệu án hàng năm, một nguồn lực xã hội rất lớn cần huy động để có đủ số lượt hội thẩm, các hội thẩm có đủ năng lực tham gia công tác xét xử tại tòa án. Điều này chỉ có thể đạt được nếu năng lực quản lý của tòa án, đoàn hội thẩm, và của chính các hội thẩm được nâng cao. Sơ bộ cho thấy thành phần của hội thẩm hiện nay được cơ cấu như sau: khoảng 1/3 từ khu vực đoàn thể, thanh niên, phụ nữ, công đoàn, giáo viên; 1/3 từ các ban ngành quản lý của chính quyền, 1/3 từ các khu vực khác như cán bộ hưu trí. Dưới sức ép của số lượng án, có lẽ cần suy tính mở rộng đối tượng có thể lựa chọn làm hội thẩm, ví dụ mở rộng ra khu vực hộ kinh doanh, nông dân, công nhân, chủ doanh nghiệp. Một mặt vừa xem đây là bổn phận danh dự, mặt khác phải xem đây là trách nhiệm công dân. Công dân chỉ có quyền từ chối làm hội thẩm nếu có lý do chính đáng, ví dụ họ đang phục vụ trong các ngành dịch vụ công thiết yếu như y tế, cảnh sát. Cũng nên quy định loại trừ những người không được làm hội thẩm, ví dụ luật sư hành nghề, luật sư tư vấn, thẩm phán về hưu không nên được chọn làm hội thẩm. Cũng nên trao quyền xác định danh sách này cho Tòa án và Đoàn hội thẩm hoặc Mặt trận, danh sách hội thẩm không nhất thiết phải được HĐND thông qua.

-          Quyền và lợi ích của hội thẩm: Kinh nghiệm quốc tế đều cho thấy đây là bổn phận công dân, có tính chất danh dự, công dân phải thi hành nếu được triệu tập làm hội thẩm. Người hội thẩm làm công việc này không có thù lao, song họ được thanh toán chi phí đi lại, lưu trú một cách hợp lý. Như vậy, về lý thuyết, tăng thêm quyền lợi vật chất cho hội thẩm không phải là chủ trương đúng. Thay vì chỉ nghĩ tới tăng thêm thù lao đọc án và ngồi xử, tăng thêm tiền phụ cấp trang phục, cần tìm cách thúc đẩy xã hội tôn vinh, tưởng thưởng cho người hội thẩm bằng sự kính trọng. Nếu mở rộng đối tượng hội thẩm sang cho công nhân, người buôn bán, phải tính tới quy định người chủ sử dụng lao động phải xem hoạt động của hội thẩm tại tòa tựa như đang thực hiện công việc, chủ sử dụng phải tạo điều kiện cho họ có cơ hội tham gia.

-          Tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ: Dựa trên hệ thống các đoàn hội thẩm, tòa án chắc rằng phải gánh vác thêm nhiệm vụ thường kỳ tập huấn, bồi dưỡng các hiểu biết tối thiểu về quy trình tố tụng, quyền và nghĩa vụ, cấu trúc hồ sơ vụ kiện, cách đọc, theo dõi, tham gia một vụ kiện. Cũng có thể cần hình thành một Hiệp hội các đoàn hội thẩm để điều phối các hoạt động này.

-          Nghĩa vụ của hội thẩm: Điều 89 Luật Tổ chức tòa án 2014 đã quy định nguyên tắc chung, người hội thẩm, dù là thẩm phán không chuyên, song phải bị ràng buộc trách nhiệm giống như các thẩm phán chuyên nghiệp. Có thể suy tính để quy định một mức phạt hành chính, nếu hội thẩm từ chối tham gia xét xử mà không có lý do chính đáng (nhiều bang ở Đức phạt lên tới 1000 EUR cho hành vi này).  Nếu hội thẩm cố ý vi phạm pháp luật, ví dụ có xung đột lợi ích mà không từ chối vụ việc hoặc có hành vi cản trở công lý, thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật không khác gì các thẩm phán chuyên nghiệp.  

-          Cải tiến cách phân công hội thẩm tham gia xét xử: Để tránh các yếu tố chủ quan, có thể suy tính bằng cách nào đó tiến hành phân công hội thẩm tham gia các phiên xử một cách công khai, công tâm, khách quan hơn chăng? Ví dụ căn cứ số lượng án hàng tháng, số lượng hội thẩm tại tòa, có thể bốc thăm một cách ngẫu nhiên và phân bổ hội thẩm một cách ngẫu nhiên, sau đó báo trước cho họ, ví dụ trước 1 tháng để chuẩn bị. Với án kinh doanh, thương mại, án sở hữu trí tuệ, chứng khoán, nếu hội thẩm được chọn từ giới doanh nghiệp, có kiến thức kinh doanh và chuyên môn tương đối phù hợp, thì có thể họ sẽ tham gia hiệu quả hơn.  

Kinh phí phát triển năng lực hội thẩm: Muốn thực hiện được dân chủ hóa hoạt động xét xử theo tinh thần của Điều 103 khoản 1, Hiến pháp 2013, quy định rằng xét xử cần có hội thẩm tham gia, cần có sự chuẩn bị phù hợp về kinh phí. Như đã trình bày, kinh phí nên được ưu tiên để phát triển năng lực thể chế của các đoàn hội thẩm, năng lực quản lý của tòa án đối với hội thẩm, xây dựng quy chế chi tiết hướng dẫn về hội thẩm, tổ chức tập huấn, đào tạo định kỳ cho hội thẩm. Thiếu quan tâm và phân bổ kinh phí thỏa đáng cũng sẽ cản trở hoạt động của các đoàn hội thẩm.

Comments

Popular posts from this blog

Đoán định tư pháp là gì?

Bài viết ngắn dưới đây góp phần tìm hiểu và trả lời các câu hỏi sau đây: (i) Đoán định tư pháp là gì, ra đời trong bối cảnh nào, có ảnh hưởng gì trong ngành tư pháp trên thế giới, (ii) Ngành tư pháp Việt Nam nên chuẩn bị như thế nào để chủ động ứng xử với xu thế Đoán định tư pháp [1] . Đoán định tư pháp (Predictive Justice) là gì? 1.       Đoán định tư pháp là một xu thế thay đổi cung cách cung cấp dịch vụ pháp lý, trong đó có hoạt động xét xử của tòa án, dưới sức ép của thời đại dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI), với sự xuất hiện của các công ty khởi nghiệp công nghệ pháp lý (Legal Tech start-up), cung cấp những giải pháp tư vấn, hỗ trợ pháp lý trên nền tảng của các công nghệ thông minh. 2.       Xu thế này bắt nguồn từ những nỗ lực cung cấp nguồn luật mở (open data) từ 50 năm nay. Do công nghệ thay đổi rất nhanh (máy tính, vật liệu bán dẫn, chip điện tử, mạng Internet, các thuật toán dẫn tới trí tuệ nhân tạo), 50 năm qua máy tính đã thông minh hơn 1,

Arbitrability

§ 2 LCA 2010 focuses on commercial arbitration, to settle commercial disputes, with at least one of the parties who is merchant and conducts commercial act. Additionally, the scope of arbitrable commercial disputes is determined by special law, such as Commercial Law 2005, Law on Investment 2014, and Law on PPP 2020. Example from practice: A and B are wife and husband in a pending divorce process. In dividing their joint property, they agree to divide the shares jointly owned in a company: 40% for A, and 60% for B. Disputes arise because A will remain as active shareholder with all voting rights, but B only agrees to compensate the market value of this 40% of these shares, estimated 1200 billion VND. A and B agree to settle this dispute by arbitration. Is this dispute arbitrable? Divorce is a civil procedure under jurisdiction of VN court ( § 28 Civil Procedure Code 2019). In the marriage, wife and husband are not merchants, the divorce is not a commercial act ( § 2 LCA). Theref

Đề thi Ngữ văn giữa dịch covid-19

Giữa dịch covid-19, trong môn thi Ngữ văn sáng hôm qua, thí sinh toàn quốc phải phân tích một bài thơ. Tác giả bài thơ ấy, ông Nguyễn Khoa Điềm, cũng từng là một nhà chính trị lão luyện, đã giữ nhiều trọng trách trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng. Ông ấy nhấn mạnh rằng hãy để người trẻ tự nhận thức, yêu nước một cách tự nhiên, không ai làm thay họ được đâu. Hai lời tâm sự cách nhau nửa thế kỷ. Bài thơ là tâm tình của một người trẻ sau Mậu thân, trước Mùa hè đỏ lửa, giữa chiến tranh song không lên gân lên cốt. Còn lời nhắn nhủ hãy để người trẻ tự nhận thức, tự yêu lấy đất nước theo cách của mình dường như lại là trải nghiệm của người đã từng qua bao khuôn sáo xơ cứng, như chính ông bảo là lối mòn tư duy. Đất nước là của nhân dân thực ra là một tư tưởng cổ xưa. Chủ quyền nhân dân là cách nói Phương Tây, lấy dân làm gốc, việc nhân nghĩa cốt ở an dân, thậm chí ý dân là ý trời.. là cách nói  của người Phương Đông. Chỉ có điều, người cai trị, khi đã nắm trọn quyền lực đôi khi hành xử vớ